Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2010

CẮT CƠN NGHIỆN MA TÚY BẰNG KHÍ CÔNG DƯỠNG SINH CHỮA BỆNH

Kính thưa các Lương Y Bác Sỹ, kính thưa các công chức trong nghành Y, Công chức trong những ban nghành phòng chống tệ nạn xã hội, cùng toàn thể bách gia chăm họ không riêng gì người Việt, muốn tiêu diệt tệ nạn nghiện ma túy .

Đức Minh đã thành công qua thử nghiệm ( đề tài ) giải pháp phòng chống tái nghiện ma túy năm 1995, bằng Khí Công dưỡng sinh chữa bệnh. ( khí điện năng lượng sinh học ) Đã giúp ủy ban nhân dân phường Kim Mã nhận được bằng khen của chủ tịch nước năm 1995, vì công tích đã phát triển công tác phòng chống tệ nạn xã hội ( tệ nạn nghiện ma túy ), qua hình thức sinh hoạt câu lạc bộ B-93, sau thời gian cai nghiện Ma Túy tại những trung tâm cai nghiện tập trung.

Nguyên nhân đề tài nghiên cứu ( khoa học phòng chống tái ngiện ma túy ) của Đức Minh bị dừng lại không thể phát triển được, và cán bộ đầy tài năng trong lĩnh vực này là anh Trung người ủng hộ đức Minh lúc đó, đang là phó cục trưởng cục phòng chống tệ nạn xã hội. ( Là người đã đưa ra mô hình câu lạc bộ B-93 ) đã phải từ bỏ công việc - chức trách tạo phúc cho đời này. Vì sự trì trích từ của góc nhìn một chiều cúa báo chí lúc đó.

Lúc đó và kể cả hiện tại bây giờ việc tổ chức và hoạt động mô hình câu lạc bộ sau cai nghiện ma túy B-93, vẫn chưa đưa ra được một nội dung hoạt động ( sinh hoạt của các thành viên là người sau cai nghiện ma túy ) có được một hiệu quả thực tế, mang lại giá trị có hiệu lực trong mục đích phòng chống tái nghiện.

Bởi hệ thống cán bộ nắm quyền lực - để quản lý nhân sự ( quản lý dẫn giắt các thành viên của B-93 ) hoàn toàn không có khả năng chuyên nghành có thể giáo hóa được những con người tinh quái ( do ma xui quỷ khiến, là tệ nạn của gia đình và xã hội này ).

Đức Minh là người mất bao thời gian công sức tâm huyết để nghiên cứu một cách gian khổ, đôi khi phải trả những cái giá rất đắt về cả tiền của vật chất cũng như danh dự cá nhân vì lao vào nghiên cứu ( phải quan hệ thân thiết kề cận với những buồn vui bất hạnh của người nghiện ma túy, mới có cơ hội để hiểu, và tìm ra được giải pháp có hiệu quả ( hiệu lực ) trong việc phòng chống tệ nạn xã hội ( tệ nạn nghiện ma túy ) này.

Nhưng đến khi đề tài sử dụng việc luyện tập khí công dưỡng sinh ( năng lượng sinh học ) do Đức Minh sáng lập, mới le lói có tia hi vọng phát triển nhân rộng qua những thành tựu ít ỏi ban đầu, thì những cán bộ chức trách quản lý câu lạc bộ B-93 của phường Kim Mã lúc đó đã quên ngay những người trực tiếp thực thi việc đào tạo, gạt phắt những người dậy học chưa đưa ra phần kết. Họ vội vàng loại bỏ Đức Minh cùng đồng đạo đã chung sức tạo dựng sự nghiệp cứu người này, Khi đài truyền hình VTV 1 truyền hình trực tiếp 41 phút.

Khi đó không một ai có một nửa lời nhắc đến những người đã làm từ thiện, giúp việc hoạt động đem lại thành tựu cho CLB - B93.

Đức Minh hoàn toàn không nhận một đồng xu nào khi đó trong việc này. Và cũng không được nhận bất cứ một sự quan tâm đối đãi nào từ phía CLB - B-93, cũng như từ những chức trách đã đứng ra nhận công, được chủ tịch nước tặng bằng khen cho ủy ban nhân dân phường Kim Mã.

Các cán bộ chức trách quản lý B-93 cũng như cán bộ phường Kim Mã lúc đó, có lẽ đã cho rằng việc đào tạo ( dậy học dưỡng sinh ) đã song, là không cần đến Đức Minh nữa.

( hoặc họ cũng chẳng cần quan tâm đến những người nghiện ma túy sau này có tái nghiện lại hay không ), mà mục đích thăng quan tiến chức, được khen, được thưởng, đã thành.

Chắc họ nghĩ là sau khi có khả năng về khí công, thì những thành viên của câu lạc bộ B-93 ( những người sau cai nghiện ) từ đó trở đi sẽ có được khả năng tự đè bẹp cơn vật vã của ma túy, mỗi khi lỡ tái sử dụng.

Những thành viên của câu lạc bộ sau cai B-93 sẽ vĩnh viễn không tái nghiện ma túy nhờ đã có khả năng sử dụng khí công để cắt được cơn vật ma túy. Nhưng họ đâu có hiểu, hoặc họ không cần và không muốn hiểu, là khí công chỉ có thể hỗ trợ đè bẹp được sự vật vã mệt mỏi, đau đớn do ma túy hành hạ khi thiếu thuốc. Chứ không thể làm cho tư tưởng của con người từ chối được cảnh Ma sui Quỷ khiến trong tư tưởng mà tìm đến sự đam mê khoái lạc từ ma túy.

Sự thật, chỉ sau khi ủy ban nhân dân phường Kim Mã nhận bằng khen của chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam khoảng không quá 2 tháng, thì câu lạc bộ B-93 của phường kim mã lanh tanh bành. Người thành Viên của câu lạc bộ được chọn làm đội trưởng như ở mô hình quản lý tại trại giam..........

Đã bị công an chuyên án ma túy bắt, vì buôn bán tàng trữ ma túy.

95 % thành viên của câu lạc bộ B-93 phường kim mã lúc đó tái nghiện ma túy trở lại. đó là Đức Minh biết không hết toàn bộ thông tin về những thành viên của câu lạc bộ. Nên không muốn khẳng định là 100 % đã tái nghiện ma túy trở lại, không sót một người nào.

Báo chí lúc đó dòm theo cách nhìn một chiều, chứ không nhìn tổng thể ở góc độ thời thế . Thế thời nó thế .

CLB B-93 được khai sinh vốn đã 5 cha 3 mẹ.

Quyền lực và công trạng thì ủy ban nhân dân phường hưởng.

Chuyên nghành thì do cục phòng chống tệ nạn đưa ra.

Nhân sự thì do hội phụ nữ kết hợp với mặt trận tổ quốc và người của ủy ban không có nhân tài có đủ khả năng, tài năng.

Có đủ trình độ chuyên nghành ................để làm việc.

Nhất là chương trình hoạt động của B-93 lại do cán bộ của chi cục PCTNXH Hà Nội, đưa ra chương trình hoạt động của B-93 lúc đó, không được đào tạo qua hệ đại học là tối thiểu về Tâm Lý học, Xã Hội học, Thần Học, Tôn Giáo học. Đưa ra hoạt động sau cai ( cho những con người mắc căn bệnh nguyên nhân xuất phát từ góc độ tư tưởng, tinh Thần, đạo đức cá nhân, phát sinh ra tệ nạn ), không có một chút mầu sắc giáo lý về đạo đức ( đức tin ) nào thuyết phục được lòng người hướng thiện hiệu quả, thì hỏi sao CLB B-93 không tan mới là lạ.

Đức Minh bỏ ra bao công sức nghiên cứu, tu luyện, mới có được khả năng và trình độ, thực lực, mang ra làm phúc giúp người, trợ giúp cơ quan chức năng của chính phủ giải quyết tệ nạn của xã hội nói chung, và tệ nạn ma túy nói riêng.

Thì bị căn bệnh tham danh vọng, địa vị chức quyền, của những công chức đương thời lúc đó tại phường Kim Mã và...........đối sử như vậy.

Hỏi rằng từ giờ trở đi sẽ còn ai muốn rang tay làm phúc, trợ giúp các cơ quan chức năng của nhà nước trong lĩnh vực này, như Đức Minh đã từng làm nữa không ?

Và sâu xa hơn nữa là con người không thể tránh né được sự báo ứng do tư tưởng và hành động bất Thiện phát sinh, do sự giáo hóa đức tin ( đạo đức Thánh thiện của cha ông tiên tổ, giống nòi người Việt được dân gian chắt lọc suy tôn là đạo Thánh đang bị biến thái, không giáo hóa được đạo đức của cá nhân, gia đình và xã hội người Việt trong thời hiện tại, mới dấn đến kết cục tệ nạn xã hội như ngày nay ) .

Không ai có thể tránh nổi cảnh đầy con đọa cháu nghiện ngập vào ma túy, do tâm linh của gia tộc hành người, gây tổn hại đến xã hội chung, trong những trường hợp nhà thiếu phúc đức.

Ngoại trừ những người biết tu nhân tích đức làm việc thiện, lấy đạo đức của bản thân để soay đổi định mệnh đã an bài.

Mà để giải quyết triệt để về phần tư tưởng con người cận được lành, tránh được dữ, tu được thân, dưỡng được tâm, lại hoàn toàn là chức năng giáo hóa của của tôn giáo tương thích.

VIỆC DẬY HỌC KHÍ CÔNG

DƯỠNG SINH CHỮA BỆNH

Học phí Đức Minh không lấy. Bởi nếu một phương pháp có thể giúp con người có được khả năng sử dụng nội lực của chính bản thân, để có thêm khả năng chiến đấu và chiến thắng được chính mình, vượt qua và đè bẹp được sự hành hạ vật vã của ma túy, thì cái giá lấy là bao nhiêu cho sứng đáng với giá trị thực của việc này.

Nên Đức Minh chỉ nhận tiền biếu của môn đệ nhập môn, chứ không lấy học phí dậy học Khí Công.

Nhưng không phải vì sự từ thiện của Đức Minh mà mọi người coi rẻ ( giá trị hữu dụng của pháp : Khí Công, là khởi đầu của khi nhập môn tu luyện theo Thần Học Phương Đông - nghành chữa bệnh ) ở lĩnh vực này.

Cũng đừng ai trả lời với Đức Minh là không có tiền để biếu thầy, khi tiền nghiện ma túy thì có, tiền biếu thầy thì không.

- Người đang ở trên đất Việt, thì đừng bao giờ biếu tiền dưới 5 triệu VNĐ







- Người đang ở nước ngoài thì đừng biếu tiền dưới nửa tháng lương.

Việc dậy học Đức Minh sẽ sử dụng ngoại cảm để kiểm tra, theo dõi các môn đệ, thầy trò không cần thiết phải gặp trực tiếp khi dậy và học khí công chữa bệnh, thầy không cần thiết phải biết mặt đệ tử, nhưng vẫn đủ khả năng để theo dõi toàn bộ tình trạng cơ địa của môn đệ, khí huyết lưu thông ra sao, luyện tập, vận khí thế nào. ( Qua điện thoại, hoặc qua mạng ).

Tiền biếu để làm lễ nhập môn, sẽ chuyển vào tài khoản của một đệ tử của Đức Minh, tại Hà Nội .

Khi đề xuất việc nhập môn khí công dưỡng sinh chữa bệnh với Đức Minh, mọi người hãy liên hệ qua điện thoại trước, khi đã cân nhắc kỹ lưỡng, tránh làm mất thời gian của Đức Minh.

Bởi việc đào tạo dậy học khí công từ xa bằng ngoại cảm này, tốn rất nhiều thời gian và pháp lực. Hơn nữa Đức Minh lại không muốn dậy học tại nhà, bởi không muốn sinh hoạt gia đình riêng của Đức Minh bị sáo chộn, phiền nhiễu.

Đức Minh

Pháp chủ trung tâm nghiên cứu

Thần Học Phương Đông

http://thanhocpguongdong.com

ĐT: 09044 60303

Email: ducminh939393@yahoo.com

ID: ducminh939393



MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHÔNG CÓ CON ( vô sinh ) VÀ CÁCH HÓA GIẢI CHỮA TRỊ- và sinh được con trai

Thưa các thầy cùng bách gia chăm họ.

Đức Minh xin đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến cảnh vợ chồng lấy nhau mà không sinh đẻ được.

Hạnh phúc gia đình có được đối với cuộc sống vợ chồng luôn gắn liền với việc sinh con đẻ cái.

Theo người sưa thì việc không sinh được con là một thứ tội bất hiếu đối với tiên tổ ông bà. Chính vì vậy việc không sinh được con, đồng nghĩa với việc con cháu bị tâm linh tiên tổ quở trách về tội bất hiếu do...................

Thường thì việc không có con do tâm linh của dòng họ đằng nhà chồng chi phối đến con cháu, nếu đương sự không phải là người rơi vào căn cơ số mệnh phải tu luyện thờ cúng theo tôn giáo truyền thống của gia tộc. Nhưng hiện nay khi văn hóa đương đại phát triển vượt quá xa những tập tục văn hóa tôn giáo phát sinh từ cổ sưa, kéo theo sự đòi hỏi thích ứng của văn hóa tâm linh nhân loại cũng phải phát triển để thích ứng song hành.

( Âm dương đồng nhất lý ).

Từ khi tự do hôn nhân phát triển, xóa nhòa tập tục cha mẹ đặt đâu con ngồi đó tại đất Việt nói riêng và Phương Đông nói chung, ( con gái là con người ta ).

Khi người con gái đi lấy chồng thì ảnh hưởng theo nghiệp nhà chồng, và cũng hưởng phúc lộc nhà chồng. Không còn dính dáng gì đến nhà đẻ, kể cả về cuộc sống đời thường lẫn tâm linh gia tộc.

Hiện nay việc lấy chồng đối với nữ giới chỉ còn là cảnh góp gạo thổi cơm chung theo cách nhìn tiêu cực. Thích thì lấy, thích thì bỏ. Chứ không còn cảnh người con gái khi đã đi lấy chồng là cả đời sẽ thuộc về nhà chồng, không còn ảnh hưởng lệ thuộc từ cha mẹ đẻ, dòng họ nhà đẻ nữa.

Chính vì vậy về góc độ tâm linh thì cũng có sự thay đổi ảnh hưởng theo nền văn minh thời hiện tại. Con gái đi lấy chồng thời nay vẫn ảnh hưởng tâm linh lẫn ảnh hưởng mọi mặt từ gia đình dòng họ nhà đẻ, chứ về sự ảnh hưởng từ nhà chồng thì chỉ hời hợt tẻ nhạt mà thôi.

( mà nếu có mặn nồng thì thường chỉ ở góc độ thừa kế gia sản.............).

Đây là nỗi đau của người đàn ông thời hiện tại.

Hiện nay sự thay đổi này chẳng mấy ai để ý đến, mà thường mọi người vẫn quan niệm là : ( tại gia tòng phụ xuất giá tòng phu ) theo văn hóa cổ Phương Đông nói chung, và văn hóa cổ chuyền của người Việt nói riêng. Nên ai cũng nghĩ như sưa, ( người con gái khi đã đi lấy chồng sẽ ảnh hưởng phúc lộc duyên nghiệp từ nhà chồng vẫn như thời xưa ). Nên thường coi nhẹ vấn đề tâm linh dòng họ nhà người vợ.

Dẫn đến cảnh cuộc sống vợ chồng thường bị tâm linh dòng họ của nhà người vợ quở trách chi phối đến cuộc sống vợ chồng, dẫn đến cảnh cuộc sống lẫn hạnh phúc gia đình gặp nhiều nghịc cảnh, chớ trêu, khổ nạn.

Và một trong những cảnh khổ của hạnh phúc gia đình đến với người phụ nữ cũng như đối với những người chồng tội nghiệp, đó là không có con, hay không sinh được con trai để nối rõi tông đường ( chăm lo thờ tự ).

PHƯƠNG PHÁP

HÓA GIẢI NGHỊCH CẢNH :

Khi trong gia đình vợ hay chồng bị âm phần ( tâm linh gia tộc ) bên họ chồng hay họ vợ hãm triệt quở phạt, gây cảnh bệnh tật ốm đau hay nghịch ( nghiệt ) cảnh trong đời sống, làm ăn kinh tế, quan hệ ứng sử....v...v...

Do mồ mả nhà chồng hay nhà vợ bị thất lạc, hoặc việc thờ tự không chu toàn - nhà có người chết trẻ - chết oan - chết trận, chết rồi mà vẫn ham muốn quá độ về sự sống cũng như những việc của người trần gian, nên quấy nhiễu, hành khiến, chuốc họa.

Thì việc cần làm là giải quyết ổn thỏa về phần âm ( ngôi vị vong hồn ) sinh họa bằng những việc như cũng lễ................... Nếu vong sinh ác nghiệt không thể giải quyết ổn thỏa việc an vong, thì nên cầu siêu cho vong. ( cầu Phật, cầu Thánh, siêu độ, dẫn độ vong về với Phật giới, về với cơ duyên siêu sinh tịnh độ ). Hoặc dùng bất cứ một phương pháp nào để có thể an vong cũng được.

Mà đã siêu độ cho vong thì người nhà chớ cầu cúng nhờ cậy vong phù độ ban tài tiếp lộc...v...v... Bởi nếu làm vậy thì chẳng khác gì cảnh tay phải đủn vong đi tay trái kéo vong lại.

PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP

CHỮA BỆNH VÔ SINH :

Thường khi bị âm phần chi phối gây ác nghiệp dẫn đến cảnh không có con do bị chuốc bệnh: ( vô sinh ), hay sinh toàn con gái không sinh được con trai, do tâm sinh lý ( hệ di truyền ) của hai vợ chồng chênh lệc. Thì nên sử dụng phương pháp dưỡng sinh chữa bệnh, nếu y học can thiệp không hiệu quả.

Để luyện tập dưỡng sinh chữa bệnh vô sinh thì có thể sử dụng phương pháp Đức Minh khí công, hay Thần Học dưỡng sinh chữ bệnh.

Hãy học theo sách dậy luyện tập ở đường linh dưới đây:

-http://thanhocphuongdong.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=107

-http://thanhocphuongdong.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=18

Người bị bệnh Vô sinh có thể sử dụng phương pháp Đức Minh khí công hay Thần Học để kích thích vào hệ thống thần kinh để khai thông, kéo lại sự hồi sinh cho những tế bào của hệ thống thần kinh cũng như những tế bào mô nang thực thể của cơ quan sinh dục bị sơ - yếu - co - teo.

Dù là dùng Thần Học hay phương pháp Khí Công, thì người luyện tập cũng cần phải đưa năng lượng sinh học hội nhập từ vũ trụ vào khai thông khí huyết, cân bằng lại âm dương trong cơ thể, và chính trung tâm nơi vùng bệnh tại cơ quan sinh dục.

Người bệnh cần nghiên cứu về kiến thức chữa bệnh không dùng thuốc của y học cổ truyền Phương Đông. Cần có sự hiểu biết về nguyên lý hoạt động cơ năng của cơ thể và cơ quan sinh dục. Để việc sử dụng Khí Công hay Thần Học đưa năng lượng từ vũ trụ vào kích thích sự hồi sinh, phát triển hoạt động của cơ quan sinh dục khỏe mạnh lên. Để chữa khỏi bệnh Vô sinh cũng như làm gia tăng sinh lý để sinh được con trai, theo mong muốn của đương sự.

Việc tu luyện Thần Học để dưỡng sinh chữa bệnh thì nhàn thân, bởi việc truy cập năng lượng vào cơ thể hoàn toàn là thụ động, nhờ cậy vào tâm linh Thần Thánh. Còn nếu sử dụng Khí Công để tự tập hội nhập và điều phối năng lượng bằng hệ tư tưởng ( sự tưởng tượng ) của bản thân thì vất vả hơn. Bởi tự thân phải vận động.

Để chữa bệnh vô sinh thì người tu luyện cần phải kích thích khai thông hệ thống Thần Kinh :

- Mạch đốc ( mở huyệt Hậu Đình hội nhập năng lượng vào cơ thể và giắt năng lượng chạy dọc mạch đốc xuống huyệt trường cường và xả năng lượng ra ).

- Trục Tý Ngọ ( mở huyệt bách hội, hội nhập năng lượng vào cơ thể và giắt năng lượng chạy thẳng theo trục thẳng đứng xuống huyệt Hội Âm và xả ra ).

- Mở huyệt Thận Du hội nhập năng lượng vào Thận + kích thích hoạt động và khai thông Kinh Thận.

- Hội nhập năng lượng qua tế bào thở mặt da thẩm thấu vào vùng tuyến thượng thận, để kích thích hoạt động của tuyến thượng Thận.

Sau đó theo Ảnh đồ hình cơ quan sinh dục mà Đức Minh đưa lên đây, mà đưa năng lượng vào trực tiếp khai thông toàn bộ hệ thống thần kinh cũng như những tế bào mô nang của cơ quan sinh dục.

Chỉ sau vài lần tập thì sẽ thấy rõ ngay về sự thay đổi tốt lên của tâm - sinh lý.

Và nếu ơn trời phù giúp theo ước nguyện của người đương cảnh. Những em bé sẽ có cơ hội để được chào đời.

Chúc những người lâm vào nghịch cảnh Vô sinh, hoặc thèm khát một chú bé trai mà chưa thể có, tìm được nguồn vui trong sự toại nguyện.


Ảnh đồ hình cơ quan sinh dục của nữ giới :



nam :




Đức Minh

Pháp chủ trung tâm nghiên cứu

Thần Học Phương Đông

http://thanhocphuongdong.com

BẢN GỐC CỦA NGHIỆP ÁC PHÁT SINH TỪ ĐÂU GÂY HỌA CHO CON NGƯỜI ?

Để hóa giải được họa hại từ nghiệp ác phát sinh đến với con người, người thầy ( pháp sư ) cũng như những ( Đồng thầy ) của Thánh đạo đất Việt, cần chuẩn đoán chính xác về gốc rễ căn nguyên.

Đời là bể khổ.

Con người cất tiếng khóc chào đời, là đã ấn định một sinh mệnh bắt đầu chịu cảnh ( sinh, lão, bệnh, tử, ) không thể từ chối.

Chính vì vậy sự hình thành phát sinh của các tôn giáo hướng thiện mới phát triển để đáp ứng nhu cầu hóa giải những khổ nạn của con người từ sinh, lão, bệnh, tử, cùng hàng loạt những nỗi đau cái khổ của cảnh đời ngang trái, nghiệp chướng chất chồng trong xã hội loài người.

Những trường hợp đàn ông sát vợ đàn bà sát chồng, cũng như những cảnh khổ của số phận như : bị người âm đeo đẳng ám quẻ. Căn nguyên từ đâu thì không mấy ai nghiên cứu tìm tòi, mà hiện tại những thầy bà ở đời hầu hết chỉ coi việc hầu Thánh làm đồng thầy, hay làm pháp sư, chỉ là một cái nghề để kiếm ăn mưu sinh. Đó là không muốn nói về các thầy buôn Thần Bán Thánh.

Việc những người căn cao số nặng, bị người âm đeo đẳng ám quẻ, là do đâu. Thì chúng ta cần phải xem xét đến vấn để gia tộc của người đó, có người nào chết rồi mà vẫn ôm ấp sự ham muốn cuộc sống trần thế không, ( ôm ấp những tư tưởng và việc đời ) đến mức vượt qua lẽ thường, mà làm những việc trái với lề luật của tam giới, mà theo ám người trần hay không ?

Ở trường hợp người âm đeo bám, ta cần xem về những trường hợp những người chết trẻ, chết oan, chết do binh lửa nghiệt ngã. Rồi những trường hợp người chết mà lẽ sống và lý tưởng của họ quá mạnh mẽ, khiến vong hồn đó đeo bám người trần gian để hành khiến, thực hiện nốt những ham muốn chưa thỏa nguyện của họ.

Còn về những trường hợp sát phu, sát thê, thì nguyên nhân thực tế ta cần xem về sứ mệnh và nghiệp lực của gia tộc nhà họ ra sao, phần âm thế nào. Bởi phần âm của một người mạnh đến mức sát hại người phối tác ở đời của họ, thì cần phải tìm hiểu về truyền thống dòng họ của người đó theo tôn giáo nào. Những đời trước của người đó tâm linh ở cấp độ nào. Người âm nào thường đi theo họ. Tại vì sao phần âm lại hại người ngủ cùng, ăn cùng, ở cùng, cùng lo những việc hiễu lễ với người đó, đến mức phải mất mạng.

Có phải nguyên nhân vì nếu người đó có vợ chồng thì sẽ không thể thực hiện được sứ mệnh mà tâm linh gia tộc, tôn giáo, giống nòi...v...v... giao phó hay không ?

Rồi ngay cả những người chăm lễ chăm bái, tu tâm dưỡng tính làm nhiều việc thiện, mà vẫn bị đầy dẫy những khổ nạn liên tiếp. Ta cần phải xem xét lại vấn đề văn hóa xã hội phát triển đến mức hiện tại đã vượt xa những lễ nghi văn hóa của thời cổ xưa. Khiến người trần gian sử dụng những phương pháp cúng cầu tu dưỡng từ cổ truyền đó không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thế giới cõi âm .

Ví Dụ :

Từ xưa đến nay người Việt nói riêng và Phương đông nói chung. Tất cả những dân tộc có nền văn hóa tâm linh thờ cúng ông bà tiên tổ, bao giờ cũng thờ nội tộc. ( Trừ những dân tộc theo văn hóa mẫu hệ ).

Nhưng đến thời nay nam nữ bình đẳng, người chết đi mang tư tưởng bình đẳng đó, cũng đòi hỏi những người đang sống phải đáp ứng sự bình đẳng trong việc thờ cúng phần âm, mà người trần gian thì không hay biết những đòi hỏi ở thế giới cõi âm ra sao. Không mấy ai hiểu được thời nay người làm con cháu không những phải thờ cúng nội tộc, mà còn phải thờ cúng cả ngoại tộc ( họ mẹ - họ vợ ).

Thật là khó hiểu đúng không.

( đó là chưa nói đến cảnh những người mang sự di truyền nòi giống ảnh hưởng nặng về phía gia tộc người mẹ, thì đương nhiên sẽ bị tâm linh của dòng họ đằng mẹ mình chi phối triệt để ).

Những phương pháp cúng dỗ chăm lo mồ mả từ cổ truyền đến ngày nay, thực tế chỉ có thể xoa dịu cho nỗi buồn khổ ở cõi tâm linh của những người đã khuất, chứ không thể giúp họ thoát khỏi luân hồi khổ não. Bởi càng cúng nhiều càng lễ lắm, càng làm cho người âm nhớ trần gian.

Những đồ cúng lễ như cơm canh rượu thịt, rồi hoa trái thơm nức, khiến người âm thưởng thức thỏa mãn sự thèm khát nhớ cõi trần gian, và cũng là nguyên nhân khiến họ không thể rời bỏ được cõi địa ngục, mà người trần và người âm cùng chung một giao cảnh.

Đối với phép làm thầy thì linh hồn của những người gian điêu sảo trá, ác tâm, ác tính, ta không thể làm cho họ có nhiều điều kiện và quyền lực với sự sống của con người trần thế, bởi giang sơn thì dễ đổi nhưng bản tính thì khó thay.

Những người ác thì linh hồn khi chết cũng ác. Không thể tạo điều kiện cho họ gây nghiệp ác với cháu con họ và những người đang sống. Không thể đưa họ đến với quyền lực của đạo Thánh đất Việt. Bởi đạo Thánh là thờ phụng sức mạnh tâm linh chính quyền nơi cõi âm, mà nên đưa những linh hồn ác tính đó về với sự giác ngộ giải thoát của Phật Giáo.

Những con người phúc thiện thì linh hồn khi chết cũng phúc thiện. Đó mới là đối tượng sứng đáng để nắm giữ binh quyền cõi tâm linh của đạo Thánh ( của gia tộc ), nắm giữ quyền lực của thế giới tâm linh đất Việt . Mới tránh cho người trần gian không bị người âm đeo bám hành hạ, để đòi được hầu hạ dạ vâng bằng nghi lễ hầu bóng Thánh của đạo Thánh đất Việt.

Đức Minh có vài lời giác ngộ chân lý tâm linh tôn giáo, mong được các bực thầy không riêng nơi Thánh đạo đón nhận .

Đức Minh

Pháp chủ trung tâm nghiên cứu

Thần Học Phương Đông

http://thanhocphuongdong.com





TÂM XUẤT QUỶ THẦN CHI - 1

Thưa các bực sư phụ, các nhà nghiên cứu về bộ môn khoa học tâm linh.

Đức Minh Xin mạn phép đưa ra một số luân lý về tâm linh.

Đúng sai ra sao xin mọi người trông trước.

Theo Đức Minh tâm linh con người là một chiều sâu vô hạn. Và Thế giới tâm linh ở một góc nhìn và cách nghĩ, thì nó phản ánh ( phản chiếu ) về cuộc sống, tư tưởng, giao cảnh, môi trường, của xã hội trần gian.

Người xưa có câu : tâm xuất Quỷ Thần chi.

Câu này không biết của ai, nhưng về góc độ tâm linh thì giao diện chuẩn mực rất rộng.

Trong góc độ tâm linh chi phối đến con người, thì qua sự suy tôn ca tụng, bằng lời, bằng hành động, và góc độ về sự linh ứng ( báo ứng ), nhất là sắc xuất nhiều nhất lại do sự suy tôn trong tâm chí con người, mà dẫn dụ, tạo đường dẫn, mà phát sinh.

Sự ảnh hưởng chi phối từ Quỷ Thần trong thế giới tâm linh đến cuộc sống con người về những góc độ về sức khỏe, công danh sự nghiệp, kinh tế vật chất, hạnh phúc gia đình và lứa đôi...v...v... Do sự suy tôn, ca tụng, kính phục trong tâm tưởng, và những hành động tương tự. Ảnh hưởng thực sự quá nhiều từ thế giới tâm linh báo ứng chi phối đến người trần gian, mà không mấy ai để ý đến sự chi phối từ Quỷ Thần trong lĩnh vực tâm linh này.

Một trong những lĩnh vực suy tôn kính phục đó là góc độ tôn thờ một thần tượng. ( Một tấm gương để noi theo ) về góc độ tâm linh chi phối, thì sự phản chiếu báo ứng từ tấm gương Thần tượng mà người suy tôn sẽ không chỉ được và bị báo ứng phản chiếu đến sự sống con người trần thế về riêng những mặt tốt của Thần tượng. Mà sự báo ứng từ Quỷ Thần ở thế giới tâm linh đến với con người sẽ đồng bộ, ( trọn vẹn) về đường đời, bản chất cá tính, bản chất tư tưởng và hành động, rồi kết cục :

( thành quả - thành công và thất bại - sướng - khổ - giầu - nghèo, hạnh phúc, đớn đau.....) của cuộc đời, ảnh hưởng từ tấm gương của Thần tượng phản chiếu đến người suy tôn.

Trong vấn đề tôn giáo thì sự ảnh hưởng phản chiếu chi phối từ thế giới tâm linh đến người trần thế sẽ mang tính giáo hóa ( bài học ). Và sự tôn thờ trong góc độ tôn giáo thường là mang tính văn hóa tư tưởng. Nên trong các tôn giáo lớn nhỏ trên thế giới thường là tôn thờ đạo lý chứ không tôn thờ thần tượng. ( tấm gương một ai đó được tôn thờ ).

Ở đạo Thánh đất Việt, vì từ thượng cổ đến nay sự giáo hóa bằng linh ứng ( báo ứng ) của tôn giáo đất Việt, đã làm cho rất nhiều người không rạch ròi về vấn đề tôn thờ của cá nhân về đạo lý đạo đức Thánh thiện được suy tôn trong tôn giáo.

Mà những căn đồng bóng giá, chỉ mang tính trùng lập về căn cơ giới tính và bản chất, để phân loại, định dạng về trọng tâm chi phối giáo hóa đức tin của con người, từ sức mạnh tâm linh của tôn giáo đất Việt, tác động đến người theo đạo.

Một trong số những những linh hồn ngôi vị Thánh của đạo Thánh đất Việt, là căn đồng bóng giá trùng lập với căn cơ ( căn số ) của người theo đạo, luôn chi phối tác động, giáo hóa, phù độ cho Thanh Đồng, chỉ mang tính Thánh thiện theo đúng đạo lý ( đạo giáo ) tôn giáo của đất Việt. Nếu Thanh đồng đó không suy tôn vị Thánh đồng căn cơ của họ, là thần tượng, là tấm gương phản chiếu về đường đời. Mà Thanh đồng chỉ ý thức về sự định dạng theo góc độ căn cơ giới tính trong tôn giáo, về bản chất đạo đức Thánh thiện của Vị Thánh đó.

( bởi theo đạo Thánh đất Việt thì chỉ tôn thờ ngôi vị, chứ không tôn thờ Thần tượng ). Chính vì vậy trong mọi đàn lễ, mọi giá hầu bóng, chỉ cung thỉnh phát nguyện tên sắc phong của ngôi vị Thánh, chứ không khấn lễ tên trần phàm của một con người nào đó.

Bởi đã là một ai đó. Có nghĩa là con người. Mà đã là con người bằng da bằng thịt của đời thường, thì khó có thể tránh được những phản chiếu mà con người không mong muốn từ quỷ thần ở cõi tâm linh, ảnh hưởng từ tấm gương Thần tượng được suy tôn, đến với Thanh Đồng ( người theo đạo ).

Và không chỉ riêng ở đạo Thánh đất Việt mới có sự chi phối từ quỷ thần do việc tôn thờ trong tâm tưởng, hay ca ngợi, ca tụng một ai đó là Thần tượng được suy tôn.

Mà bất cứ một sự tôn thờ Thần tượng nào, và theo kiểu gì, hình thức nào, cũng dẫn đến việc tâm xuất quỷ Thần chi.

Bởi thực khó có thể tránh được những sự chi phối từ quỷ thần hai vai, mang lại họa hại song hành cùng phúc lộc may mắn, đến với người suy tôn một Thần Tượng .

( Là tấm gương = một người nào đó ).

Ví dụ:

Một ông vua được tôn thờ ca tụng. Thì sự phản chiếu ảnh hưởng báo ứng của Quỷ Thần từ thế giới tâm linh, không chỉ báo ứng phản chiếu những điều tốt, tính tốt, kết cục tốt, của ông vua này đến người suy tôn ca tụng.

Mà người suy tôn ca tụng một Thần tượng, sẽ phải chấp nhận cả những mặt xấu, tính xấu, kết cục xấu, mà đường đời và bản chất, cá tính, hành động, của Thần tượng đã mang. Đã có. Đã từng trải.

Đức Minh hiện nay đưa ra sự suy tôn về tâm linh của nhân tài, ( là linh hồn doanh nhân của đất Việt ), để giúp mọi người có được sự phù trì ban tài tiếp lộc ( PHÙ ĐỘ ) từ tâm linh của những linh hồn doanh nhân tài giỏi, giúp người suy tôn phát triển thành công ( TOẠI Ý NGUYỆN CẦU ) trong con đường kinh doanh.

Nhưng cũng nói trước để mọi người hiểu rõ, là sự phản chiếu linh ứng từ thế giới tâm linh sẽ không chỉ có mặt tốt, mà cả mặt xấu cũng sẽ có từ sự phản chiếu linh ứng, đó là :

Cái khổ của những người kinh doanh ( Nghiệp của doanh nhân ) cũng sẽ song hành linh ứng cùng tài năng và phúc lộc, đến với người suy tôn.

Đức Minh

Pháp chủ trung tâm nghiên cứu

Thần Học Phương Đông

http://thanhocphuongdong.com

KIẾN THỨC ĐỂ TẦM SƯ HỌC ĐẠO /1-2

Kiến thức lựa chọn đồng thầy - pháp sư - tầm sư học đạo .

Kính thưa các bực thầy của Thánh đạo đất Việt, Đức Minh xin mạn phép và xin lỗi, trước khi đưa ra kiến thức và kinh nghiệm của bản thân về việc tầm sư học đạo ( lựa chọn người đồng thầy - pháp sư ) truyền thụ giáo pháp của Thánh Đạo đất Việt, đối với những người muốn bước chân vào con đường hầu bóng Thánh ( thờ Thánh ) vì căn cơ số mệnh.

Để một người chưa từng khăn chầu áo ngự hầu bóng Thánh của Thánh đạo đất Việt, biết và thuần thục nghi lễ hầu bóng Thánh ( cung thỉnh bóng Thánh về ngự đồng, nhập xác ngươì phàm trần ), hoặc muốn cầu tài lộc - nghinh phúc - tống họa, nhờ tâm linh của Thánh đạo đất Việt. Thì việc cần nhất là tìm một người đồng thầy - pháp sư, để học hỏi, cậy nhờ.

Đạo Thánh của đất Việt là đạo suy tôn đạo đức Thánh thiện của nhân loại nói chung, và Người Việt nói riêng, nên đồng thầy ( Thanh Đồng của Thánh đạo ) vốn là ( bản sao - photocopy của các vị Thánh của đất Việt ), cần phải có đủ đạo đức nhân tính Thánh thiện cùng những kiến thức hiểu biết tối thiểu về đạo, mới thực sự là Thanh Đồng của Thánh đạo đất Việt.

( 3 năm thành lính, 9 năm thành đồng, 12 năm mới có cơ hội trở thành thanh đồng của thánh đạo đất Việt, nếu người đó có đủ tâm, đức, và cơ duyên để học và hành đạo ).

Còn những người mặc áo Thánh, hầu bóng Thánh dù có đến 60 năm cuộc đời, nhưng nhân tính và đạo đức không Thánh thiện, mà sống và làm việc bất thiện, thì chỉ là loại đồng ma đội lốt bóng Thánh, để phá đạo Thánh bằng những trò bất Thánh thiện mà thôi.

( những người ít hiểu biết mà làm sai với đạo, thì cũng chỉ là những kẻ phá hoại tâm linh Thánh thiện của Thánh đạo, chứ không hơn và không kém ).

Đồng ma đôi khi còn tài hơn cả đồng Thánh, bói toán đôi khi xem chuẩn xác chẳng khác gì là ma xó trong nhà. ( Phật cao một ma cao mười ) Nhưng ma quỷ dù tài dỏi đến đâu, có đội lốt bóng Thánh một cách khéo léo chiếm được lòng người đến mức nào đi chăng nữa, có làm việc giúp người cầu cúng nhiệt tình hết mực, thì kết cục ma quỷ vẫn là ma quỷ, giúp người thì ít, mà hại người thì nhiều. Người cầu ma cúng quỷ đội lốt bóng Thánh chỉ cần chậm cúng chậm lễ là bị hành khốn khổ ngay tức khắc.

Và dù ma quỷ có giúp cho con người được toại ý 1 phần, thì người đó sẽ phải trả giá gấp 10 lần những gì đã nhận được từ ma quỷ. Còn với nhà Thánh thì sự Thánh thiện là tiêu chí, là giáo lý, là lề luật của đạo.

Các vị Thánh ( bóng Thánh không bao giờ hành sử bất Thánh thiện ). Chẳng khác gì quan quân của chính quyền, chỉ hành sử theo lề luật của đạo, của luật pháp. Chứ không bức bắt ai phải cúng cầu xin sỏ bằng lễ to lễ lớn theo kiểu hối lộ Thánh Thần, mà chỉ cần cái tâm Thánh thiện kính Trời trọng Đất, ăn ở đàng hoàng nhân đức là đủ.

Những người đồng thầy - pháp sư, cùng các loại thầy không có ý thức lao động để mưu sinh, mà chỉ muốn sống dựa vào tâm linh của................ dù họ có đạo đức Thánh thiện một cách để mọi người nhìn thấy, thì cũng chỉ là những cây tầm gửi sống ăn bám vào Thánh Thần............... Họ càng dầu có bao nhiêu thì càng khẳng định rõ về sự sống của họ là ăn trên ngồi chốc bằng mồ hôi nước mắt của bách gia chăm họ.

Còn muốn nhìn một cách thẩm thấu hơn về trình độ cùng đạo đức và sự báo ứng nhân quả đến với vị thầy của mình học đạo hay cậy nhờ, thì hãy nhìn ngay đến cuộc sống của bản thân người thầy cùng hạnh phúc của gia đình riêng của người đó, xem vợ đảm, hiền thục, đối nội, đối ngoại ra sao, con cái thành đạt và khỏe mạnh thế nào, là ắt suy luận ( từ sự phản chiếu báo ứng ) ngay ra được về bản chất đạo đức, về nhân tính và công việc của thầy, ở mức nào.

Đó là chưa nói đến những thầy cúng bong bong để kiếm cơm, có nhiều thầy còn nấu cháo khao âm binh của họ nuôi, để giúp việc cho họ có nhiều khách hàng, kiếm được nhiều tiền của từ những đàn lễ chặt đầu chặn đuôi. Và gia chủ ( khách hàng ) thì chỉ cần chậm nhờ thầy cúng theo kỳ theo hạn là gặp chuyện khốn ngay tức khắc.

Sứ mệnh của một người làm thầy ở bất cứ một tôn giáo nào trên thế giới, đều phải làm tròn trách nhiệm giao giảng về giáo lý, tôn chỉ, nghi lễ của đạo, để hướng tâm chỉ dẫn những môn đồ tín đạo theo đạo đức nhân cách tốt đẹp mà đạo suy tôn, để đương sự ( tín đồ ) hưởng được sự báo ứng thiện lành từ tâm linh của tôn giáo mà họ theo.
( Thánh đạo của đất Việt cũng không ngoại lệ ).

Những người thầy không làm tròn được sứ mệnh của bực thầy trong tôn giáo, mà chỉ lo kiếm chác để mưu sinh hoặc..................... thì không những có tội với đạo, có tội với đời, mà còn có tội với chính bản thân họ cùng con cháu của họ. Vì đã tạo nghiệp, gây báo ứng bất thiện, ác quả cho mình và thế hệ đời sau.

Con người sinh ra trên đời ai cũng có số mệnh, thế thì từ cổ sưa mới sinh ra bộ môn Tử Vi để các thầy suy đoán về tương lai và quá khứ của con người xấu, tốt, lành, giữ, ra sao, mà khuyên răn những việc nhân đức, để mọi người dùng đức năng để thắng số mệnh.

Và một trong số những phương pháp đức năng thắng số đó là cầu trời xin phật cậy nhờ tiên tổ ông bà giúp người trần gian, nghinh phúc tống họa cận lành tránh giữ, bằng sự tu tâm dưỡng tính ăn ở Thánh thiện, tâm nguyện chí thành.

Ngày nay việc hầu bóng Thánh, làm thầy cúng, hay đi tu để giao giảng Phật Pháp...v...v... Đã trở thành cái nghề để mưu sinh, mất đi bản chất sứ mệnh thiêng liêng cao cả của nghiệp làm thầy hướng đạo cho chăm họ.

Chăm họ người Việt thì đại đa số văn hóa đi lễ cũng ít hiểu biết. Thường bây giờ mọi người đi lễ vào cả chùa để cầu tài cầu lộc, và rất nhiều người luôn đến đền phủ và cả những điện thờ tư gia, để xin sự trợ giúp từ tâm linh của đạo Thánh cho những việc làm bất Thánh thiện, kiếm ăn, làm dầu trên đau khổ của người khác.

Thử hỏi những nơi Chùa, Đền, Miếu mạo, Điện thờ, mà những người làm thầy cũng những khách đi lễ mang bản chất bất nhân từ Thánh thiện đó tập trung cúng tế, thì tâm linh nơi đó sẽ là do ma quỷ hay Phật Thánh ngự trị ?

Người tầm sư học đạo cũng như đi lễ thời nay, thực quá khó tìm được sự nhân từ - Thánh thiện ở nơi đền chùa................. bởi thực giả lẫn lộn ngay cả trong thế giới tâm linh lẫn ở cõi trần gian.

Mà thường mọi ngừơi phải mất một thời gian để trải nghiệm kiểm chứng về tâm linh, cùng đạo đức và trình độ của những thầy mà họ học hỏi cậy nhờ, mới khôn ra được, qua những mất mát tổn thương cả về tiền của lẫn đức tin.

Đó là còn phúc đối với những Người có được tâm linh sáng suốt, còn với những người tâm chí u mê hay phúc phận quá kém thì đến cuối đời nhắm mắt xuôi tay, cũng không gặp được sự từ bi quảng đại của đức phật và sự Thánh thiện nhân từ của tâm linh Thánh đạo, từ những nơi đền chùa của các thầy đang đắc địa hoành hành bằng tâm chí bất thiện.

Để tìm được Phật Thánh trong tâm chí của chính bản thân người cầu cúng, thì ta cần phải có sự Thánh thiện nhân từ, từ bi quảng đại ngay trong tư tưởng của bản thân trước, rồi mới có cơ duyên để gặp được chân sư phúc đức chỉ bảo sau.

Nhất là vào thời nay, thời mạt pháp, ma quỷ lộn sòng đội lốt Phật Thánh, báo ứng chi phối đến tâm linh của những nơi thờ Phật Thờ Thánh, sinh ra những tệ nạn gây hại đến đạo gây họa đến đời. Chi phối xui khiến từ những người thầy cho đến khách đi lễ, làm trái với đạo làm sai với đức của con người đã suy tôn từ cổ sưa đến ngày nay.



19 - 02 - 2010
Đức Minh - tái bút.

Về phần muốn tìm một người thầy tử vi - kinh dịch - tướng học - phong thủy, để chỉ giáo trợ giúp việc nghinh phúc tống họa, nghinh tài, nghinh lộc. Thì việc đầu tiên là cần biết về người thầy sử dụng những thuật học trên có phương pháp gì để hóa giải định mệnh của bản thân đương sự cậy nhờ hay không.

Bởi nếu chỉ dùng tử vi - tướng học - kinh dịch và những thuật học tương tự để xem về phúc họa lành giữ của đường đời, mà không có phương pháp nào hóa giải hoạn nạn, nghinh phúc, nghinh lộc. Mà chỉ giúp biết trước mọi phúc họa của bản thân đương sự để mà lo nghĩ buồn phiền, thì rõ là chẳng đem lại được ích lợi gì, mà chỉ chuốc nỗi lo cho tâm trí.

( Đã khổ lại càng mệt thêm ).

Bởi đã là định mệnh thì tránh kiểu gì cũng không thể tránh được, bởi nếu mà tránh được bằng những việc làm hành sự kiểu đời thường, thì không còn là số mệnh thiên định nữa. Mà số mệnh là do thiên định, thì phải do ông trời ( Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế ) mới đủ thẩm quyền để thay đổi số mệnh con người.

Và để có thể cầu trời giúp mình toại ý, thì ngoài những việc cầu cúng Trời, Phật, tiên tổ, trợ giúp ban ơn phát phúc, thì đương sự cần phải sử dụng đạo đức Thánh thiện nhân từ của bản thân, để thuyết phục cõi tâm linh mủi lòng mà ban ơn.

Ngoài ra để tìm một Thầy về Phong thủy để chỉ bảo giúp mình xắp đặt dương trạch ( nhà ở ), âm trạch ( mồ mả - lăng mộ ) để nghinh phúc tống họa, thì cái cần thiết là đương sự cần phải hiểu về văn hóa cổ truyền của đất Việt, ( hãy vào văn miếu quốc tử giám tại Hà Nội để thăm quan tìm hiểu về người đời sưa đã đào tạo một người lãnh đạo xã hội vào thời kỳ phong kiến ra sao ), nho - y - lý - số là gì. Và bốn lĩnh vực này chi phối tới đường đời của một con người, cũng như xã hội của loài người ở Phương Đông như thế nào.

Phong thủy có phải là tất cả những gì ta cần phải quan tâm chỉnh sửa để nghinh được phúc tống được họa hay không ?

Hay phong thủy chỉ ảnh hưởng đến một góc của đường đời con người, tương đương chưa đến
( 1/4 ) mà thôi. Vì chưa nói đến vấn đề tâm linh tôn giáo.

Nhưng tất cả những kỳ môn thuật học như : tử vi - kinh dịch - tướng học - phong thủy, hay nhưng kỳ môn tương tự...v...v... đều có giao thoa mật thiết và ảnh hưởng từ tôn giáo ( văn hóa ) của đương sự.

Bởi tôn giáo chúng ta vẫn đang hướng tâm là giáo hóa về đức tin hướng về những giáo lý đạo đức cao đẹp, mang lại lợi ích thiện lành cho cuộc sống con người. Vốn là văn hoá tâm linh của dân tộc Việt nói riêng, và phương đông nói chung.

Nên tất cả những kỳ môn thuật học để bói toán ( suy đoán ) chiêm bốc, cũng chỉ là công cụ để phát triển sự cao đẹp hữu ích của tôn giáo ( văn hóa tâm linh ) địa phương, của đương sự.

Những người làm thầy sử dụng những kỳ môn thuật học nêu trên để thuyết phục đức tin của mọi người, nếu không đưa ra được những phương pháp hữu ích cho gia chủ nghinh được phúc, tống được họa, mà chỉ bói toán để mưu sinh hay tìm kiếm danh lợi từ những kỳ môn thuật học bói toán chiêm bốc...v...v... Thì rõ chẳng khác gì như người làm nghề y, chỉ giúp bệnh nhân kiểu : đoán ra bệnh, chứ không có thuốc để cho, hoặc cố tình không cho thuốc chữa bệnh cứu người.

( Hoặc nếu có ý cho thuốc nhưng không hiệu quả để trẩn trị dứt điểm căn bệnh, mà cố tình kéo dài việc người bệnh phải dùng thuốc để thầy kiếm lợi, thì dạng thầy đó còn thất đức và thâm hiểm hơn cả ác ma ngã quỷ ).




22 -02 - 2010
Đức Minh - tái bút

Kiến thức tối thiểu để người tầm sư học đạo nhận định về bản chất Thanh Đồng của Thánh đạo đất Việt : Để trở thành một Thanh Đồng của đạo Thánh không phải chỉ đủ tuổi đồng ( 3 năm thành lính - 9 năm thành đồng - 12 năm mới có cơ hội thành Thanh Đồng đạo Thánh ).

Hai chữ Thanh Đồng đây đã phản ánh rất rõ về đạo đức Thánh thiện thanh cao của một người theo đạo Thánh đất Việt. Vấn đề tuổi đồng nhiều hay ít thì chỉ phản ánh lên điều kiện để một con người có đủ thời gian tu sửa tâm tính đạo đức và học hỏi, để có kiến thức cùng kinh nghiệm về những nghi lễ, giáo lý của tôn giáo Thánh đạo mà định danh.

3 năm thành lính là nói về thời gian tối thiểu của một tân đồng đi theo người đồng trưởng để học hỏi những kinh nghiệm, nghi lễ, giáo lý, đạo đức từ người thầy đó.

9 năm thành đồng là thời gian tân đồng tung hoành trải nghiệm, tu tâm dưỡng tính, học và hành đạo bằng kiến thức của bản thân đã học được từ đồng thầy cũng như từ bạn đồng công lính, để có được tâm tính Thánh thiện và hiểu biết tối thiểu về tâm linh, lễ nghi khánh tiết, giáo lý, pháp thuật, của đạo Thánh.

12 năm mới đủ thời gian để một tân đồng khẳng định đạo đức nhân cách cùng trình độ của bản thân có sứng đáng là một Thanh Đồng thanh cao đức độ với đạo và đời không, để đảm nhận sứ mệnh trời ban làm một đồng trưởng dìu giắt chỉ giáo những thế hệ đi sau theo con đường Thánh thiện cao đẹp của đạo Thánh Đất Việt.

Nếu trong 12 năm tu dưỡng của một tân đồng mà không đạt được đến đích, sứng đáng là hình bóng đồng dạng với một hay vài ngôi vị Thánh trong đạo, mà vẫn chỉ giữ nguyên bản chất cá tính người thường, thì sẽ trở thành thứ đồng tầm thường. Nếu đạo đức nhân cách lại còn tồi tệ kiểu sống và làm việc phá đạo hại đời, điêu, gian, bạc, ác, thì lại biến thành thứ đồng ma bóng quỷ, chứ chẳng trở thành được một Thanh đồng của Thánh đạo đất Việt. Kể cả người đó có được hưởng lộc của vong hồn nào đó ở cõi âm mà có khả năng bói toán, hay gọi hồn gì đó...v...v...

Hiện nay những người đi tầm sư học đạo tìm kiếm cậy nhờ đồng thầy, thường kén lựa sự xung hợp theo ngũ hành và thiên can địa chi của hai tuổi giữa đồng thầy và đệ tử, chứ chẳng mấy ai để ý đến đạo đức cùng kiến thức của người thầy sẽ dìu giắt mình vào việc Tiên cung Tiên Thánh. Mặc dù ai cũng hiểu việc tầm sư học đạo cần thiết nhất là tìm kiếm học hỏi trình độ và đạo đức ở thầy, chứ không phải việc hợp tác kinh doanh hay tìm vợ tìm chồng để tính hợp xung.

Ðau buồn hơn nữa là vì một lý do nào đó mà một số người làm thầy thời nay tại đất Việt đã làm việc bóp méo cả đạo lý tôn giáo của nhà Phật, triệu cả vong lên để trò chuyện giao lưu với người trần gian theo kiểu treo đầu dê bán thịt chó.

Đã vẽ ra cái tên mới cho pháp triệu vong ( đồng dí ) của Thánh đạo đất Việt, thành cái tên mới đó là phương pháp ( áp vong ) của đạo Phật.

Mà theo hiểu biết của Ðức Minh thì từ thượng cổ đến nay chưa bao giờ có phương pháp nào trong đạo Phật của Ấn Độ làm việc gọi hồn như các thầy trên đất Việt, làm phép gọi là ( áp vong ), đi trái ngược lại tiêu chí và giáo lý của Phật pháp. ( Siêu độ cho vong còn chẳng được ).

Việc chiếm dụng tước đoạt bản quyền về pháp thuật của những thầy đang dùng phép triệu vong ( đồng dí ) của Thánh đạo đất Việt, mà lại biến tấu đặt tên là pháp ( áp vong ) của đạo Phật, đã làm tổn thương mất mát uy danh cùng quyền lợi của đạo Thánh đất Việt.

Tước đoạt sự tự hào về nền văn hóa tâm linh tôn giáo của dân tộc Việt, đã được tiên tổ sáng lập lên pháp triệu vong ( đồng dí ) bằng tâm linh đạo Thánh, là tinh hoa kiệt tác về khoa học tâm linh đất Việt, bao đời vẫn được lưu giữ bảo tồn đến ngày nay.



Đức Minh

Pháp chủ trung tâm nghiên cứu
Thần Học Phương Đông

PHONG THỦY DƯƠNG TRẠCH - ÂM TRẠCH

thanhocphuongdong.com » PHONG THỦY- BẤT ĐỘNG SẢN



PHONG THỦY DƯƠNG TRẠCH - ÂM TRẠCH

11.02.2010 13:42


Theo Đức Minh thì phong thủy âm trạch và dương trạch khác nhau ở chỗ, dương trạch là dành cho người đang sống, và âm trạch là dành cho người đã chết.

Về lý thuyết để sắp đặt phong thủy dương trạch thì tiêu chí nằm trọng tâm giải quyết nhu cầu thỏa mãn của gia chủ đang sinh sống là chính, nhưng còn phần âm trạch thì lại rất trừu tượng sâu xa.

Thực tế theo quan điểm sống gửi thác về thì thể xác chỉ là nơi tạm chú của linh hồn mà thôi. Khi con người chết đi thể xác thối rữa, còn linh hồn trở về với vũ trụ bao la.

Việc sử lý xác chết của con người từ cổ sưa đã được nhân loại thực hiện theo những nghi lễ tập tục tôn giáo địa phương. Và dòng chảy của thời gian đã lưu truyền phát triển những nghi lễ tập tục của người sưa đến xã hội văn minh của chúng ta ngày nay.
Việc nghi lễ tế tự người đã chết cũng như ướp xác, hay chôn cất lưu giữ di cốt của người đã chết được thực hiện ở đại đa số con người từ cổ sưa đến nay thường theo tập tục tôn giáo của địa phương, với mục đích tâm linh. Với giá trị của việc chăm lo cho người đã chết qua lăng mộ mồ mả, cúng dỗ tế tự, thực tế rất hiệu quả đến cuộc sống sức khỏe và nhiều góc độ trong đường đời của một con người .

Và sự duy tâm của người phương đông chúng ta hoàn toàn có lý từ cổ sưa đến nay, không ai phản bác nổi trước nhiều trường hợp người đã chết nhập hồn vào người đang sống. Và nếu ai đã từng tu luyện qua bộ môn Thần Học Phương Đông thì sẽ hiểu sát thực mọi vấn đề về người âm tác động chi phối đến sức khỏe và trí tuệ của người đang sống ra sao.

Hiện tại bây giờ thường mọi người vẫn làm những nghi lễ cúng tế theo đúng tập tục văn hóa của địa phương, nhưng Đức Minh đã từng thử nghiệm dò hỏi kiến thức của một số người về ý nghĩa của việc họ làm như cúng dỗ, rồi tại sao lại gọi là tiết thanh minh thăm nom mồ mả thì 90% không hiểu. Thực tế về ngày dỗ thì cổ nhân đã dùng danh từ dỗ dành để phản ánh lên bản chất của nghi lễ người đang sống dỗ dành người đã chết đã quá rõ. Và tại sao lại gọi là tiết thanh minh, thực tế rất đơn giản là hầu như bất cứ ai đầu xuân đi thăm mồ mả cũng thanh minh trước hồn người đã chết, nào là cả năm bận rộn thế này thế khác...v...v... bây giờ mới thăm hồn được.

Về phần phong thủy âm trạch là danh từ chung để phản ánh lên khí và nước ngầm dưới lòng đất, dương trạch phản ánh về khí và nước trên mặt đất lộ dương. Về phần mồ mả lăng mộ để lưu giữ được hài cốt được lâu bền theo quan niệm của một số lớn người phương đông thì bắt buộc phải sử dụng đến kiến thức thuật học âm trạch kỳ môn.

Tại sao lại gọi phong thủy âm trạch là kỳ môn, là bởi vì những người thầy phong thủy có đủ trình độ để đặt và thiết lập về phong thủy âm trạch, ai cũng phải tu luyện pháp thuật đến đẳng cấp thượng thừa, mới có đủ khả năng và giá trị để làm thầy về âm trạch. Thầy phong thủy về âm trạch phải đủ khả năng phát hiện dò tìm thủy mạch, khí mạch, huyệt mạch, hay ít nhất cũng phải tìm được đất dưỡng xương cốt để đặt mộ mới là thầy thứ thiệt, chứ ba thứ phương hướng hay thế đất chưa đủ nhu cầu của người nhờ thầy, nhất là vào thời nay muốn kiếm được long huyệt còn khó hơn lên trời. Mạch dưới lòng đất thì bị khoan phá đóng cọc đứt tá lả.

Việc xây nhà ( lăng mộ ) cho người đã chết thực tế từ sưa đến nay hoàn toàn là để thể hiện sự quan tâm của người đang sống với linh hồn người đã chết. Linh thiêng là ở vong hồn của con người chứ không phải ở xác chết ( di cốt ). Sự sống sau cái chết cũng là một xã hội mang mầu sắc tôn giáo - văn hóa - văn minh của những người đang sống.

Cái khác chẳng qua là ở một dịnh dạng khác với sự sống vật chất thực tại mà thôi. Vì linh hồn hoàn toàn tồn tại ở một dạng tinh khí mang bản chất sóng từ tông tin. Có thể tác động chi phối ảnh hưởng tới tinh thần và sức khỏe con người đang sống. Nên con người bao đời vẫn bắt buộc phải ứng sử cho đúng mực với cõi tâm linh, để bảo vệ và xây dựng cuộc sống an - khang - thịnh - vượng, của con người.

Còn về lĩnh vực dương trạch nói chung, và phong thủy nhà ở, nhà xưởng, văn phòng...v...v...nói riêng, thì hiện tại ứng dụng theo sách cổ của trung hoa không còn hợp nữa bởi kiến trúc thời nay, đã hoàn toàn khác thời cổ sưa, hiện giờ không còn mấy ai thực hiện theo kiến trúc cổ.

Đặt phong thủy dương trạch thời hiện đại phải dùng những kiến thức hiện đại để nghinh đón sinh khí cho gia chủ cậy nhờ. Phòng ngủ đầu tiên phải quan tâm đến vấn đề tâm sinh lý của chủ phòng, bởi điều đó ảnh hưởng rất lớn tới giấc ngủ của gia chủ.

Phòng ăn và bếp phải đặt theo người chủ của cái bếp chủ của nồi cơm trong nhà chứ không thể khuôn thước theo cổ truyền, bởi thời sưa đàn bà không có giá trị gì về mọi lĩnh vực quyền lực từ trong nhà đến ngoài xã hội, nhưng nay đã khác.

Phòng khách cùng nơi thờ tự là chốn trọng địa mà người đàn ông nắm giữ trong cương vị chủ soái của một gia đình, thì nơi này phải đặt theo người đàn ông chủ của gia đình.

Trong phong thủy dương trạch vấn đề âm lý chi phối tác động đến cuộc sống con người thực sự nhiều hơn thế cục và hình tướng của không gian. Chẳng hạn như cổ xưa lưu truyền lại những phép đặt phong thủy theo âm lý như treo một đôi đũa cả trên cửa ra vào phía trong gian phòng khách để thể hiện cái lý của người dương với người âm bao đời về quan điểm cơm gạo áo tiền, và tương tự như vậy là những phép như treo một cái thớt và một con dao tại những đường đi của nhân khí, chẳng qua cũng để hiệu chỉnh tư tưởng của âm giới...v...v...

Còn những phép để trấn ác xạ khi đối ngõ, đối cổng, đối cửa hoặc nặng nhất là cửa nhà bị đường đi lối đi của con người chạy thẳng vào, thì thường bắt buộc phải dùng sinh khí của sinh vật sống để chấn chỉnh ngăn chặn ác khí như cách sử dụng song long ( một đôi cá rồng đã trưởng thành để trấn ).

Phòng khách u ám thiếu sinh khí, thì dùng cửu tiên để dụ khí quần tụ ( 9 con cá Thần Tiên ).

Còn những phép dùng tượng hình để chấn theo căn cơ số mệnh, theo đặc thù công việc của gia chủ, chẳng hạn như những người làm quan hay binh nghiệp thì dùng da hổ, da báo, ngà voi, hay tượng của những vị anh hùng được chăm họ kính trọng để gia tăng sinh khí tâm linh uy quyền...v...v...

Đối với Người kinh doanh thì việc tâm linh giúp gia tăng trí tuệ, gia tăng phúc lộc, cơ duyên trong làm ăn kinh tế ảnh hưởng từ vấn đề di truyền nòi giống, từ phong thủy âm trạch ( từ lăng mộ mồ mả tiên tổ ông bà, hay thân nhân trong gia tộc ) rất nhiều.

Có những dòng họ thì phát văn, có những dòng họ thì phát võ, nhưng có những dòng họ chẳng phát được gì mặc dù mồ mả tiên tổ ông bà được người đang sống quan tâm rất chu đáo, nhưng vấn đề đó thì rất ít sảy ra, bởi người trần gian quan tâm cậy nhờ đến tâm linh tiên tổ họ hàng thân thuộc, nhưng vì kiến thức của người chăm lo mồ mả lăng mộ tiên tổ quá ít.

Và đôi khi kiến thức dù có đi chăng nữa nhưng vì những quan điểm bất đồng hay cố chấp của người trần hoặc từ phía vong nhân, mà khiến người âm không giúp hoặc chơi sỏ người thân ruột thịt gây tổn hại đến người trần. Khiến người trần sống bất đắc chí, mặc dù chăm lo mồ mả, rồi cúng, rồi lễ mãi, mà vẫn không đón nhận được sự đáp lại từ tâm linh tiên tổ theo ý nguyện.

Ngoài những điều đó còn một lý do của sự bất toại ý của người chăm lo mồ mả cúng dỗ ông bà tiên tổ đó là bản chất tài năng cùng lẽ sống của vong hồn được cúng lễ chăm lo không có khả năng về làm việc phúc đức, tài giỏi về làm ăn kinh tế, mà hồn thiêng khi sống làm người chỉ giỏi và mang bản chất ác nhân ác tính, giỏi hại người chứ không giỏi giúp người, giỏi phá hoại chứ không giỏi xây dựng, giỏi tiêu tiền chứ không giỏi kiếm tiền. Thì lấy đâu khả năng để giúp người chăm lo mồ mả cúng dỗ mình phát tài kiếm tiền.

Người sưa có câu : ( sống khôn thác thiêng ) sống có khôn thì thác mới thiêng, chứ khi sống làm người còn ngu đần dốt nát, thì khi chết về với cõi âm thiêng làm sao được.

Cũng có những người sống khôn thác thiêng. Nhưng vì khi sống gây quá nhiều tội lỗi với đời, gây thù chuốc oán quá nhiều, thì dù con cháu có cúng dỗ tận tình chu đáo, cũng không giúp nổi con cháu, mặc dù hồn thiêng rất muốn giúp con cháu mình, nhưng sợ bản thân hồn mà giúp con cháu thì con cháu hồn sẽ lại bị gánh chịu hậu quả của những ân oán do hồn đã gây ra, bị kẻ thù chuốc họa, trả thù.

Đó là chưa nói đến vấn đề tôn giáo chung của dân tộc nòi giống. Những dòng họ càng lớn thì tâm linh tôn giáo trong dòng họ càng mạnh. Con cháu cúng dỗ chăm lo mồ mả ông bà nhiều mà tôn giáo truyền thống của dòng họ không làm đúng chuẩn mực, thì cũng chẳng khác gì cảnh người trần gian chăm lo cho ông bà tiên tổ ngồi trong ngục tù của tâm linh tôn giáo dân tộc. ( ví như cảnh người trần gian : con cái chăm nuôi ông bà cha mẹ đang bị giam cầm hành tội ).

Ông bà có thương con cháu đến mấy, nhưng không có đủ điều kiện để giúp con cháu thoát khỏi những họa hại xuất phát từ tâm linh dân tộc giống nòi. Bởi tinh túy của dân tộc giống nòi vốn nằm ở văn hóa truyền thống tôn giáo của dân tộc.

Đó là chưa nói đến tình trạng người trần gian mang sự di truyền nặng nề của người mẹ, họ mẹ, nhưng chỉ quan tâm chăm lo mồ mả cúng dỗ họ cha ( nội tộc ) chứ không biết để cúng dỗ chăm lo mồ mả của họ mẹ.

Bởi theo văn hóa cổ truyền từ xưa đến nay thì chỉ cúng dỗ họ cha, chứ không mấy ai lại đi cúng dỗ họ mẹ. Đôi khi có người hiểu biết về vấn đề này, nhưng cũng không có được vị chí và tư cách để có thể đứng ra để cúng dỗ và chăm lo xây dựng mồ mả lăng mộ của họ mẹ.

Vì góc độ quan niệm chung của người trần từ xưa đến nay, nên họ nhà mẹ hầu như không bao giờ cho cháu ngoại hoặc con gái một cái quyền hạn gì về vấn đề mồ mả cúng dỗ.

Người xưa có câu :

( con gái giống cha dầu ba đụi - con trai giống mẹ khốn vô cùng ).

Điều này đã bao đời từ xưa đến nay đã tạo ra những số phận bế tắc không đường hướng giải quyết về mặt số phận tâm linh. Nhưng đối với Đức Minh thì chuyện này không còn là bế tắc. Mà để giải quyết vấn đề này đối với Đức Minh lại hết sức đơn giản, đôi khi lật ngược lại cả ván cờ định mệnh. Biến cái dủi trở thành cái may, biến điều hung trở thành việc cát. Biến cái họa trở thành cái phúc không hề khó trong trường hợp này.

Chẳng hạn như bản thân Đức Minh hiện tại, chỉ lo việc cầu siêu cho linh hồn của tiên tổ ông bà nội ngoại của bản thân, chứ không cúng cầu chăm lo lăng mộ mồ mả của ông bà tiên tổ như những gia đình người thường khác. Một phần là do Đức Minh hiểu quá rõ về việc tâm linh, hiểu quá rõ về sự linh thiêng nằm ở linh hồn của người đã khuất, chứ nắm xương khô chẳng có thiêng gì, mà chỉ là di cốt tồn tại của người đã chết, là cái để người âm mượn những bộ xương của họ để nhìn và đánh giá về sự quan tâm của người trần gian với hồn thiêng, và đáp lại bằng bản chất cá tính thiện ác của họ theo luân lý và quan điểm lễ giáo, tập tục, mà người đã chết ôm ấp giới tính về tới thế giới sự sống sau cái chết của con người, và luôn chi phối tới sự sống của cháu con bằng cái lý của tình thân họ hàng ruột thịt.

Số phận của Đức Minh rơi vào cái thế và cảnh có cúng dỗ chăm lo lăng mộ mồ mả tiên tổ như mọi người, thì cũng không thể đạt được mục đích nghinh phúc từ tiên tổ ông bà, mà chỉ chuốc cái họa bởi một số nguyên nhân. Nên Đức Minh phải dùng cách cầu Trời xin Phật siêu độ cho tiên tổ ông bà nội ngoại của bản thân, để tỏ lòng hiếu thuận .

Và làm việc phúc đức cứu người giúp đời phát dương tôn giáo chính thống của đất Việt, để tiên tổ ông bà của Đức Minh đi đến bất cứ một cửa Phật cửa Thánh hay gia tộc nào, cũng được Phật Thánh cùng chăm họ ở cõi tâm linh đón chào trợ giúp, vì uy và tín đức của Đức Minh, đã dùng việc tạo phúc cho đời làm lợi cho đạo để thuyết phục Thế giới tâm linh con người.

Sơ qua là một số kinh nghiệm và hiểu biết của Đức Minh về phong thủy, ( tâm linh từ phong thủy ) xin đưa ra để đàm đạo san xẻ.
Rất mong được mọi người đánh giá đúng thiện ý của Đức Minh.


Đức Minh

Pháp chủ trung tâm nghiên cứu
Thần Học Phương Đông










CƠ HỘI NGÀN NĂM CÓ MỘT VỚI NGƯỜI VIỆT - 1 , 2 ( hướng dẫn viên du lịch lịch tham khảo )

thanhocphuongdong.com » XÃ LUẬN - TÂM LINH



CƠ HỘI NGÀN NĂM CÓ MỘT VỚI NGƯỜI VIỆT - 1 , 2 ( hướng dẫn viên du lịch lịch tham khảo )

17.01.2010 22:07


Kính thưa các Vị lãnh đạo của đất Việt đương thời.

Kính thưa các nhà khoa học, sử học, các nhà nghiên cứu bảo tồn và phát triển nền văn hóa quy tập, ( văn hóa tôn giáo ) của đất Việt đang ở khắp mọi nơi trên địa cầu.

Đức Minh xin mạn phép cầm đèn chạy trước....................vì cơ hội để chứng minh về đạo Thánh, tôn giáo chính thống của đất việt đã đến với chúng ta trước cộng đồng thế giới. Người việt hiện giờ đã có cơ hội để ngửng cao đầu tự hào về truyền thống văn hóa tôn giáo của dân tộc, giống nòi bất diệt.


Cơ hội của sự kiện kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long đất Việt này, là một cơ hội có một không hai đối với người Việt. Để giới thiệu với bạn bè thế giới về nền văn hóa chính thống của dân tộc có lịch sử từ thời Vua Hùng dựng nước.

Một nền văn hóa tâm linh ( tôn giáo ) vô cùng hữu ích đến cuộc sống dân sinh và sức khỏe của chăm họ đất Việt. Hơn nữa nền văn hóa độc đáo độc nhất vô nhị trên thế giới này của người Việt, còn mang một sức mạnh tâm linh bất diệt qua chiều dài lịch sử hào hùng nghiệt ngã mà vẫn tồn tại và phát triển một cách khó hình dung nổi, trước sự đồng hóa dân tộc của giặc tàu đến cả ngàn năm. ( sát phu hiếp phụ ) để tiêu diệt giống nòi người Việt.

Nhưng nhờ vào sức mạnh tâm linh của đất mẹ Việt Nam, nhờ vào nòi giống bất diệt của người việt gửi gắm di truyền từ phía người vợ ( người mẹ Việt ), mà đến ngày ngay chúng ta vẫn được thừa hưởng tâm linh truyền thống Thánh thiện của người Việt, nhờ sự tồn tại và phát triển của đạo Thánh đất Việt.

Mặc dù thời thế theo lịch sử từng giai đoạn thời gian tiến triển của đất Việt, đã làm nhu cầu và trách nhiệm của tôn giáo trong xã hội đất Việt phát sinh rất nhiều sự ngoại lai. Tạo ra nhiều cảnh nửa đời nửa đạo cho những gia đình, tạo ra rất nhiều những dạng người sống bất hợp cách với giới tính, và nhân tính Thánh thiện của dân tộc Việt.

Nhưng đến nay dựa vào thời cơ ngàn năm có một : ( dịp kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long này ), Người Việt đã có cơ hội để khẳng định về đạo Đức tôn giáo chính thống của dân tộc mình trước cộng đồng thế giới, bằng việc chứng minh diễn giải về tôn giáo Thánh đạo đất Việt. Một đạo được phát sinh do dân gian ( nhân dân ) tôn thờ và quy tập, kéo dài gần hai ngàn năm mới hoàn thiện, tinh vi, thực dụng như ngày nay.

Đạo Thánh của đất Việt là một đạo lấy sự báo ứng tâm linh để giáo hóa con người không sai với giáo lý Thánh thiện. Và trong giáo lý Thánh thiện bao chùm đạo, thì mỗi ngôi vị Thánh được dân gian quy tập lại đại diện cho một hệ người mang bản chất đạo đức Thánh Thiện riêng theo cương vị chỗ đứng của từng ngôi vị đó trong xã hội và tâm linh con người.

Người Theo đạo Thánh đất Việt từ thượng cổ lưu truyền đến nay, ai cũng được tâm linh của đạo Thánh giúp cho được toại ý sở cầu. Những người làm thầy của Thánh đạo mà có tâm có đức thì thường sẽ luôn được tâm Linh Thánh đạo ban cho những khả năng kỳ diệu về tuyên đoán hay chữa bệnh cứu người...v...v...

Hiện nay đạo Thánh đất việt chưa được quy chuẩn nên phát sinh nhiều những đồng thầy tự phát, vì thiếu kiến thức cơ sở văn hóa của đạo Thánh mà bóp méo tư tưởng Thánh thiện, bôi nhọ tôn giáo khi đảm nhận sứ mệnh trời ban.

Họ đã làm cho đạo đức con người, gia đình và xã hội người Việt hiện tại hướng thiện thì ít, mà hướng ác thì nhiều, về cả mặt tâm linh lẫn đạo đức nhân tính con người.

Video Đức Minh đưa lên cảnh mấy cô gái đánh chửi nhau, là bằng chứng về sự mục nát biến thái đạo đức văn hóa truyền thống Thánh thiện của người việt hiện tại.

Là bằng chứng về tác hại của sự bóp méo tôn giáo Thánh thiện cái kiểu dậy đời : ca tụng sự tranh đấu của mẫu liễu hạnh đã chống lại vua chúa trần gian, ( là hình tượng phụ nữ gớm gê được suy tôn để giáo đời ) chứ lại không tôn thờ nét đẹp và đạo đức thanh cao Thánh thiện của người phụ nữ Việt từ tấm gương của mẫu, ( chăm lo thương yêu chồng con ngay cả khi đã tạ thế về trời ).







07 - 03 - 2010
Đức Minh - tái bút


VIẾT TẶNG NHỮNG HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH


Chào các bạn đang mang sứ mệnh giới thiệu với bạn bè trên thế giới về non sông - văn hóa, của đất Việt.

Đức Minh được ơn trời khai minh khai sáng, ban cho sứ mệnh tu luyện học hỏi, nghiên cứu thành công về nền văn hóa tâm linh của đất Việt. Trọng tâm nhất là Đạo Thánh. ( Nền văn hóa dân gian suy tôn và quy tập ).

Đáng nhẽ những kiến thức về tâm linh Đạo Thánh của đất Việt mà bao công nghiên cứu, tìm tòi, giác ngộ, đầy gian khổ vất vả, Đức Minh chưa đưa ra trong thời điểm này.

Nhưng vì đã quá gần ngày lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long của đất Việt, nên Đức Minh không muốn bỏ qua cơ hội ngàn năm có một này, để người Việt có cơ hội giới thiệu với thế giới về nền văn hóa độc nhất vô nhị có một không hai trên thế giới của người Việt.

Vì sợ các bạn làm công việc hướng dẫn viên không đủ thời gian chuẩn bị kiến thức để phiên dịch, và thể hiện hết tận tường ý nghĩa của những ngôn từ cú pháp về tôn giáo tâm linh trước ngoại ngữ của các nước. Nên Đức Minh Xin đưa ra những dẫn giắt giúp các bạn làm tròn sứ mệnh của những hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu về nền văn hóa tâm linh tôn giáo của Người Việt qua những đền Thờ, di tích lịch sử, nằm trên đất Việt . Nơi sơn thủy hữu tình, danh thắng đầy thơ mộng yêu chiều, ôm ấp tình người của thế giới tâm linh giống nòi người Việt.

Người Việt từ cổ xưa đã có tôn giáo ( từ thời các Vua Hùng ), Và tôn giáo của người Việt khác hẳn với đại đa số những tôn giáo lớn nhỏ trên thế giới ở chỗ. Do dân gian suy tôn quy tập, chứ không phải do riêng cá nhân một ai sáng lập ra.

Đạo Thánh ( tôn giáo chính thống của đất Việt ), không thờ một ngôi vị con người nào đó. Mà thờ những ngôi vị mang bản chất đạo đức của trời - đất, và những mẫu người Thánh thiện, dựa trên truyền thuyết của dân gian xây đắp qua những sự kiện của một số nhân vật được coi là người trời dáng thế.

Chính Vì vậy đạo Thánh của người Việt không thờ tên tuổi của một người trần phàm nào. Mà chỉ thờ pháp hiệu, hiệu diệu, ( tên hiệu ) mang bản chất của chức năng - cương vị - hiệu đức của các vị Thánh do dân gian suy tôn, thiết lập, xây dựng nhân vật đại diện cho từng thể loại định dạng mẫu mực, tiêu chuẩn Thánh thiện của con người suy tôn là Thánh. Chứ không phải tôn thờ một ai là người phàm.

kể cả các vị Thánh của nhà Trần trong đạo Thánh. Có công đánh giặc ngoại xâm, tên tuổi rõ ràng được biên chép trong lịch sử, nhưng cũng không ai được thờ bằng tên của tục của một con người, mà dân gian chỉ tôn thờ đạo đức của hiệu diệu ( pháp hiệu ).

Có nghĩa là chăm họ người Việt chỉ tôn thờ đạo đức mà con người suy tôn về đạo lý, tiêu chí, lẽ sống. Chứ không tôn thờ tên tuổi cá nhân của một ai.


Ví Dụ :

Đức Thánh : Trần Hưng Đạo Đại Vương.

tên Tục của ông là : Trần Quốc Tuấn.

Nhưng chăm học không tôn thờ thân xác con người trần tục của ông. Mà tôn thờ đạo đức, lẽ sống ( lý tưởng ) của ngôi vị : Đức Thánh Trần Hưng Đạo.

Theo sự ít học của Đức Minh tạm dịch giải về ý nghĩa tên của Đức Đại Vương cho dễ hiểu là :

- Chữ trần được coi là họ ( tên của dòng họ ).
- Hưng là sự Thành công, phát triển, tốt lành.
- Đạo là con đường phát triển ( tiến lên ) sự cao quý thiêng liêng.
- Đại Vương là đức Vua của non sông đất Nước.

Tất cả những ngôi vị trong đạo Thánh của đất Việt tạm sơ lược trong 72 ngôi chính, phản ánh lên mọi tầng lớp từ vua chúa quan lại cho đến những cô cậu trong chính quyền ( sức Mạnh uy quyền ) của thế giới tâm linh người Việt. Do dân gian suy tôn, xây đắp các ngôi vị Thánh, theo dọc chiều dài lịch sử từ thời vua Hùng Vương cho đến Thời vua lê chúa trịnh gần đây mới quy chuẩn hoàn thiện, và phát dương được nền văn hóa tôn giáo của dân gian thiết lập, quy tập hoàn thiện ở ngôi vị sau cùng, là : Đức Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Mới có được sự hoàn thiện về lễ nghi khánh tiết, đạo lý, để giáo hóa đức tin của chăm họ nhân gian cũng như vong nhân ở thế giới cõi âm quy về đạo Thánh. Bằng sức mạnh của tâm linh.

Chính vì vậy để giới thiệu về nền văn hóa tâm linh ( đạo Thánh đất Việt ), thì không khó. Nhưng để chứng minh với thế giới về tâm linh đạo Thánh của người Việt giáo hóa đức tin của chăm họ theo giáo lý Thánh thiện thế nào, thì là cả một vấn đề rất khó. Bởi chỉ có những bực thầy trong đạo có được phép mầu của đạo Thánh đất Việt, mới có đủ khả năng chứng minh về sự uy quyền hữu dụng của đạo Thánh giáo hóa đức tin con người. Bằng người thực việc thực.

Ngay một vấn đề đơn giản nhất là sự hiểu biết đầy đủ những ngôi vị thánh trong đạo, hiện nay cũng rất nhiều những người đang khăn chầu áo ngự hầu bóng Thánh mà cũng chưa biết, chứ nói gì đến người bình thường.

Đức Minh xin đưa ra đây :

- Riêng ngôi vị cô đôi đã có 2 cô đôi. Cô đôi thượng ngàn. Và cô đôi cam đường. Bản chất Thánh thiện của hai ngôi vị Thánh này hoàn toàn toàn khác nhau, giới tính khác, y phục cũng khác. Chức năng, cương vị, chỗ đứng trong xã hội lại càng khác nhau.

Cô đôi thượng là ngôi vị hầu cận cửa chầu Đệ Nhị . Cô đôi cam đường là người bắc Ninh đi buôn gặp nạn mà tạ thế, hiển Thánh do được dân gian suy tôn vì bản chất Thánh thiện, ngay khi đang sống và khi là linh hồn mà vẫn giúp dân bao điều phúc thiện, mới được dân gian suy tôn Thành đứcThánh cô.

- Về cô bơ thì có đến 3 cô bơ. Cô bơ thoải. Cô bơ thác ngàn. Cô bơ Hà thành. Từ bản chất của từng ngôi vị chỗ đứng trong xã hội, cũng như dân tộc trang phục, đến chức năng tâm linh công đức giúp đời cứu người ( cứu người khổ độ người mê ) đều khác nhau.

Cô bơ hà Thành thì là công chúa, khi hầu bóng Thánh của cô thì khăn áo như một vị công chúa. Còn cô bơ thoải phủ thì khăn áo theo tòa thoải phủ. Cô bơ thác ngàn thì thường lên khăn dẻ quạt bằng Voon trắng. ( Và điều quan trọng hơn là bản chất Thánh thiện của ba ngôi vị Thánh đều là cô bơ này, luôn trùng lập bao đời, bao thế hệ, hoàn toàn khác biệt về giới tính, căn cơ, định dạng ).

Đạo Thánh của người Việt nói chung quy và dễ hiểu là một đạo tôn thờ một hệ thống ( chính quyền ) sức Mạnh tâm linh của người Việt, được dân gian suy tôn và quy tập gần, khoảng 2000 năm mới hoàn thiện như ngày nay.

Đạo Thánh đất Việt tôn thờ tư tưởng Thánh thiện của mọi dạng người trong xã hội trần gian được phản chiếu từ thế giới tâm linh.

Bất cứ một ai trong xã hội của người Việt đang hiện hữu sự sống đều có sự trùng lập căn cơ giới tính Thánh thiện không ngoài nhưng ngôi vị Thánh trong đạo, nếu con người đang sống có được ít nhiều về tư tưởng Thánh thiện.

Đức Minh có đôi lời ít ỏi về kiến thức tâm linh của Thánh đạo đất Việt, mong được bách gia chăm họ cũng như những bạn đang hành nghề hướng dẫn viên du lịch, hiểu . Xin đừng phụ tấm lòng chân thành này của Đức Minh. Mà hãy bằng hành động làm tốt cho đạo, làm đẹp cho đời, làm giầu cho quê hương đất nước .

- Chúc các công ty du lịch cùng các bạn hướng dẫn viên làm việc thành công, hiệu quả.

- Chúc các Thanh đồng đạo Thánh cùng những người ngưỡng đạo và bách gia chăm họ, được an khang thịnh vượng hạnh phúc ngọt ngào nhờ tâm linh của Thánh đạo đất Việt.


Đức Minh

Pháp chủ trung tâm nghiên cứu
Thần Học Phương đông